Đại hội Đảng toàn quốc là một sự kiện chính trị trọng đại của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Đại hội lần thứ XIV của Đảng lần này diễn ra từ ngày 19/1/2026 đến ngày 25/1/2026 tại Thủ đô Hà Nội. Đại hội là dấu mốc rất quan trọng trong quá trình phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam và đất nước Việt Nam.
Đại hội XIV của Đảng có ý nghĩa bước ngoặt, là dấu mốc đặc biệt quan trọng trên con đường phát triển đất nước. Đây là dịp để Đại hội đánh giá tổng kết lại 40 năm kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới; đồng thời Đại hội sẽ kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, quyết định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ 5 năm, 10 năm tới và tầm nhìn đến năm 2045.
Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó dự báo; đất nước đứng trước nhiều thuận lợi, thời cơ đan xen với những khó khăn, thách thức rất lớn và nhiều vấn đề mới đặt ra cần phải giải quyết, Đại hội được kỳ vọng sẽ đưa ra những quyết sách đúng đắn, mạnh mẽ để đưa đất nước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới.
Đại hội lần thứ XIV dự kiến tổ chức từ ngày 19/01/2026 tới ngày 25/01/2026 tại Thủ đô Hà Nội. Đại hội có sự tham gia của 1.586 đại biểu, đại diện cho hơn 5 triệu đảng viên, dự Đại hội. Với nhiệm vụ quan trọng trên, công tác chuẩn bị Đại hội được Ban Chấp hành Trung ương, trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ đạo chặt chẽ, sát sao, cả về mặt tổ chức, nội dung và công tác nhân sự. Cho đến nay, công tác tổ chức Đại hội đã được chuẩn bị chu đáo, an ninh, an toàn, đúng các quy định của Đảng.
Chủ đề của Đại hội là: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
(i) Chủ đề Đại hội thể hiện được vị trí, vai trò Đại hội XIV của Đảng có ý nghĩa bước ngoặt, là dấu mốc đặc biệt quan trọng trên con đường phát triển đất nước. Đặc biệt Đại hội Đảng XIV xác định đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc sau kỷ nguyên giải phóng dân tộc và kỷ nguyên đổi mới.
(ii) Chủ đề Đại hội là thông điệp thể hiện sự hiệu triệu, cổ vũ, động viên, định hướng tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, sâu rộng công cuộc đổi mới, tận dụng mọi thời cơ, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thách thức; thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng (1930 - 2030) và hướng tới hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945 - 2045).
(iii) Chủ đề Đại hội thể hiện được mục tiêu tổng quát, những nội dung tư tưởng cốt lõi, xuyên suốt, rõ các thành tố quan trọng nhất, bao gồm: sự lãnh đạo của Đảng; vai trò của nhân dân và sức mạnh toàn dân tộc; về công cuộc tiếp tục đổi mới và mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; kế thừa, phát triển chủ đề trong các kỳ Đại hội trước đó, đặc biệt là Đại hội XIII của Đảng.
4. Về văn kiện Đại hội
- Các dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIV có nhiều đổi mới cả về kết cấu, nội dung. Công tác xây dựng văn kiện lần này có sự đổi mới căn bản so với các kỳ Đại hội gần đây. Nổi bật là việc Báo cáo chính trị lần đầu tiên tích hợp nội dung 3 văn kiện, gồm: Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế - xã hội, Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng thành Báo cáo chính trị theo một trục xuyên suốt, đồng bộ, thống nhất để trình Đại hội XIV. Việc tích hợp này thể hiện tinh thần tiếp tục đổi mới về cách xây dựng văn kiện, xuất phát từ thực tiễn mới của đất nước, sự phát triển nhận thức lý luận và tổ chức thực hiện, bảo đảm sự nhất quán về nội dung; ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện. Các nội dung thể hiện tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá khách quan tình hình, trên cơ sở đó đề ra hệ quan điểm chỉ đạo, mục tiêu phát triển đất nước, các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và các giải pháp đột phá để phát triển nhanh và bền vững đất nước, thể hiện khát vọng vươn mình mạnh mẽ của cả dân tộc trong kỷ nguyên mới.
- Bên cạnh những ý kiến đóng góp của Đại hội đảng bộ các cấp, trong đợt lấy ý kiến nhân dân từ ngày 15/10/2025 đến ngày 15/11/2025, đã có thêm gần 14 triệu ý kiến của gần 5 triệu lượt cán bộ, đảng viên, nhân dân tham gia đóng góp tham gia vào Dự thảo các văn kiện. Đây cũng là nhiệm kỳ Đại hội Đảng tranh thủ được sự đóng góp ý kiến của nhân dân đông đảo nhất so với các nhiệm kỳ Đại hội trước. Các vị nguyên là Lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, cán bộ, đảng viên, đại biểu Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội, các nhà khoa học, nhà quản lý và đông đảo tầng lớp nhân dân trong nước, đồng bào Việt Nam định cư ở nước ngoài đã tham gia đóng góp nhiều ý kiến quý báu, tâm huyết, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao với Đảng, với nhân dân, đất nước. Các tiểu ban văn kiện Đại hội XIV đã chắt lọc, tiếp thu tối đa các ý kiến phù hợp để tiếp tục hoàn thiện Báo cáo chính trị. Trên cơ sở đó, đã tiếp tục hoàn thiện dự thảo các Văn kiện và trình Hội nghị Trung ương 15 vừa qua.
5. Về đường lối đối ngoại của Đại hội XIV
- Đường lối đối ngoại trong các văn kiện Đại hội là sự kết hợp giữa kế thừa và phát triển. Một mặt kế thừa đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới là độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi; là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; tham gia chủ động, có trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề chung của khu vực và quốc tế.
- Đồng thời bổ sung nhiều nội dung mới, quan trọng, với nhiều quan điểm chỉ đạo mang tính đột phá về đối ngoại, hội nhập quốc tế trước sự thay đổi của tình hình quốc tế, khu vực và nhu cầu phát triển trong nước. Đặc biệt là bổ sung quan điểm chỉ đạo “tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên”. Đây là quan điểm chỉ đạo mang tính chiến lược, nhằm thực hiện hiệu quả 03 lợi ích chiến lược về an ninh, phát triển và ảnh hưởng là: (i) Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước; (ii) Phát triển kinh tế - xã hội, hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đến năm 2030, 2045, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; (iii) Nâng cao uy tín, vị thế của Đảng, của đất nước.
- Bên cạnh đó còn có nhiều nội dung mới về (i) đánh giá môi trường quốc tế, khu vực; (ii) quan điểm “phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hoá và vị thế của đất nước”; (iii) bổ sung các mục tiêu hội nhập quốc tế “toàn diện, sâu rộng, hiệu quả”, “nâng cao vai trò, vị trí của Việt Nam trong nền chính trị thế giới, kinh tế toàn cầu và văn minh nhân loại”, “tham gia chủ động, có trách nhiệm hơn vào việc giải quyết các vấn đề chung của quốc tế và khu vực”; nhiệm vụ “đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương” và (iv) các nhiệm vụ “chủ động tham gia xây dựng, định hình các thể chế đa phương”, “các phương thức ngoại giao cấp cao, ngoại giao chuyên ngành”…
6. Về một số điểm mới được dư luận quốc tế quan tâm
(i) Xác định "bảo vệ môi trường" cùng với phát triển kinh tế, xã hội là nhiệm vụ trung tâm.
Việc bổ sung "bảo vệ môi trường" cùng với phát triển kinh tế, xã hội là nhiệm vụ trung tâm đánh dấu một bước phát triển nhận thức sâu sắc và vững chắc về phát triển bền vững dựa trên 3 trụ cột: kinh tế, xã hội và môi trường. Đây là cam kết chiến lược, đặt sinh thái môi trường làm thước đo trong chính sách phát triển và không đánh đổi lợi ích ngắn hạn để bảo đảm lợi ích dài hạn cho quốc gia và các thế hệ tương lai.
Để thực hiện điều này, bảo vệ môi trường được xác định là trụ cột để xác lập mô hình tăng trưởng mới. Nhà nước đã và đang hoàn thiện pháp luật về môi trường, tăng cường kiểm tra và xử lý nghiêm vi phạm; thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, tái chế, giảm phát thải và gia tăng giá trị sản xuất; địa phương chủ động khai thác tài nguyên bền vững, kết hợp huy động tài chính xanh qua trái phiếu, quỹ bảo vệ môi trường và hợp tác công – tư; doanh nghiệp xanh được hỗ trợ thuế, tín dụng ưu đãi và chuyển giao công nghệ để giảm chi phí. Trên bình diện quốc tế, Việt Nam đã cam kết phát triển kinh tế xanh và cam kết trung hòa các-bon vào năm 2050, ưu tiên thu hút vốn xanh, tín chỉ các-bon và công nghệ sạch.
(ii) Xác lập mô hình tăng trưởng mới lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính.
Việc xác định ưu tiên này xuất phát từ tầm nhìn chiến lược đáp ứng yêu cầu của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư với việc công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành yếu tố quyết định tốc độ và chất lượng phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia. Chúng tôi xác định chỉ có đột phá mạnh mẽ trong những lĩnh vực này mới giúp Việt Nam bứt phá khỏi giới hạn tăng trưởng truyền thống.
Theo đó sẽ xây dựng Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số; nâng đầu tư cho R&D, ưu tiên công nghệ lõi như AI, Big Data, IoT, sinh học phân tử; xây dựng hệ sinh thái kết nối mạnh mẽ giữa khởi nghiệp sáng tạo, phát triển doanh nghiệp công nghệ cao, quỹ đầu tư mạo hiểm và trung tâm đổi mới sáng tạo; hoàn thiện thể chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, cơ chế chia sẻ dữ liệu, cơ chế đánh giá, nghiệm thu sản phẩm khoa học công nghệ
(iii) Xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế.
Việc đặt kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế là tiếp cận có tầm chiến lược trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và cạnh tranh toàn cầu ngày càng khốc liệt. Sự phát triển của các doanh nghiệp tư nhân thời gian qua đã chứng minh khả năng thích ứng nhanh, sáng tạo mạnh mẽ và linh hoạt với biến động.
Theo đó sẽ thúc đẩy khởi nghiệp và phát triển mạnh mẽ các loại hình kinh tế tư nhân; tiếp tục hoàn thiện cơ chế pháp lý, giảm thiểu rào cản hành chính và bảo vệ quyền tài sản, quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh thị trường, quyền sở hữu trí tuệ; hoàn thiện cơ chế tín dụng, chính sách thuế, đất đai, tạo điều kiện bình đẳng cho mọi doanh nghiệp; phát triển hệ thống các loại hình thị trường đa dạng và linh hoạt để kinh tế tư nhân khai thác hiệu quả vốn, đất đai và công nghệ. Đồng thời sự phân công, phối hợp và bổ trợ giữa kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế khác được tổ chức chặt chẽ, khoa học và linh hoạt để khai thác tối đa tiềm năng, thế mạnh riêng của mỗi thành phần kinh tế.
(iv) Thu hút có chọn lọc các dự án đầu tư nước ngoài, tập trung đầu tư chất lượng cao, các ngành công nghiệp công nghệ cao.
Việt Nam tiếp tục thúc đẩy đầu tư nước ngoài trực tiếp, nhất là cho các lĩnh vực công nghệ cao, phát thải thấp. Đồng thời tăng cường kết nối khu vực FDI với khu vực kinh tế trong nước; thực hiện có hiệu quả quá trình chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản lý và đào tạo nguồn nhân lực; hình thành hệ sinh thái và tăng cường chuỗi liên kết giữa doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp trong nước. Bên cạnh vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, Việt Nam cũng sẽ tăng cường thu hút đầu tư gián tiếp, đặc biệt là các quỹ đầu tư.
7. Về công tác nhân sự
- Công tác chuẩn bị, giới thiệu nhân sự Ban chấp hành Trung ương khóa XIV là nhiệm vụ, công việc đặc biệt hệ trọng. Việc lựa chọn nhân sự Ban lãnh đạo cao nhất của Đảng đã được tiến hành kỹ lưỡng, chắc chắn, thận trọng, chính xác, đúng quy định.
- Việc "chọn đúng người cho đúng việc", nhất là nhân sự cấp cao, những người lãnh đạo đất nước, là điều kiện tiên quyết để đưa tầm nhìn, khát vọng thành kết quả. Đó là phải hội đủ bản lĩnh chính trị, đạo đức liêm chính và nêu gương, đặt lợi ích quốc gia-dân tộc, lợi ích nhân dân lên trên hết; phải có tầm nhìn chiến lược sắc bén và năng lực tổ chức để mở khóa các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, tập hợp sức mạnh. Đồng thời có năng lực tổ chức thực thi: thiết kế mục tiêu rõ ràng, cụ thể, xác lập trách nhiệm cá nhân, đo lường bằng dữ liệu, đưa quyết sách "đi đến cùng" với kỷ luật công vụ cao. Trong kỷ nguyên số, cần có năng lực số và tư duy dữ liệu, hiểu biết sâu về kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, quản trị rủi ro và khả năng điều phối liên ngành - liên vùng - liên cấp. Bên cạnh đó cần khả năng huy động nguồn lực xã hội, thiết kế quan hệ đối tác công-tư, tạo lập niềm tin thị trường; khả năng hội nhập quốc tế, ngoại ngữ và văn hóa đối thoại để mở rộng không gian phát triển. Đặc biệt đề cao, coi trọng chất lượng, hiệu quả, sự cống hiến của cán bộ, ưu tiên những cán bộ có những công trình, phương án, dự án mang lại tác động rõ rệt; có năng lực xử lý tình huống trong khủng hoảng (thiên tai, dịch bệnh, an ninh phi truyền thống); quyết đoán nhưng biết lắng nghe phản biện, dựa vào dân, vì dân.
8. Về kết quả nhiệm kỳ Đại hội XIII và 40 năm Đổi mới
Quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII diễn ra trong bối cảnh thế giới diễn biến nhanh, phức tạp, bất ổn, khó lường, khó khăn, thách thức nhiều hơn thuận lợi, xuất hiện những thay đổi mang tính thời đại, nhiều vấn đề rất mới, chưa có tiền lệ, đặc biệt là đại dịch Covid-19, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư…Trong bối cảnh đó, Việt Nam tiếp tục đạt được những kết quả quan trọng trong phát triển đất nước. Trong đó nổi lên là:
- Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2021 - 2025 đạt bình quân khoảng 6,3%/năm, thuộc nhóm nước tăng trưởng cao của khu vực và thế giới. Quy mô GDP năm 2025 đạt 514 tỉ USD, gấp 1,47 lần so với năm 2020, xếp thứ 32 trên thế giới, GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao.
- Chất lượng tăng trưởng có bước chuyển biến tích cực, ba đột phá chiến lược tạo nền tảng và động lực mới thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm. Lạm phát, bội chi ngân sách nhà nước và các chỉ tiêu về nợ công được kiểm soát; thặng dư thương mại liên tục ở mức cao; thị trường trong nước phát triển mạnh. Các nguồn lực đầu tư phát triển được huy động và sử dụng hiệu quả hơn; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tiếp tục được xác định là động lực phát triển.
- Tăng trưởng kinh tế gắn kết chặt chẽ hơn với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội. Chỉ số phát triển con người (HDI) được cải thiện rõ rệt, tăng 14 bậc, đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước phát triển con người cao. Các chính sách, giải pháp giảm nghèo bền vững được triển khai hiệu quả trên tinh thần "không để ai bị bỏ lại phía sau", tỉ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,4% năm 2021 xuống còn 1,3% năm 2025. Hệ thống giáo dục, y tế có bước phát triển tích cực, chất lượng được nâng lên.
- Quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố, tăng cường; quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế được nâng tầm, đạt nhiều kết quả nổi bật. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước.
- Việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng đạt được nhiều kết quả rất quan trọng, có mặt nổi bật, đột phá chưa từng có. Đặc biệt, cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả đã đạt được những kết quả mang tính đột phá. Trong một thời gian rất ngắn, đã tiến hành đồng bộ các việc, tạo lập cơ sở để bộ máy hoạt động bình thường, thông suốt, góp phần mở đường cho kiến tạo phát triển.
9. Về những định hướng lớn và nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới
Dự thảo Báo cáo Chính trị và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định trong giai đoạn mới, cần tập trung thực hiện 3 đột phá chiến lược:
(i) Đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển; đẩy mạnh phân cấp phân quyền; thúc đẩy đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát triển năng lực sản xuất mới, các mô hình, phương thức sản xuất kinh doanh mới.
(ii) Tập trung chuyển đổi cơ cấu, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, trọng dụng nhân tài; đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi chung.
(iii) Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ và đột phá mạnh mẽ trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội nhất là hạ tầng giao thông, hạ tầng công nghệ và hạ tầng năng lượng.
Đồng thời xác định 6 nhiệm vụ trọng tâm:
(i) Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
(ii) Xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, trọng tâm là hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách.
(iii) Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa; nâng cao hiệu quả khu vực kinh tế nhà nước, phát triển khu vực kinh tế tư nhân; xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
(iv) Tập trung triển khai đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo nền tảng cho phát triển lực lượng sản xuất mới hiện đại, phương thức sản xuất mới hiệu quả.
(v) Phát triển nguồn lực con người, phát triển văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực to lớn cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước.
(vi) Tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; đẩy mạnh triển khai chiến lược đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới./.